+ Trả lời Chủ đề
Kết quả 1 đến 2 của 2

Chủ đề: Các vị Liệt nữ trong lịch sử Việt Nam

  1. #1
    Junior Member
    Ngày tham gia
    Mar 2012
    Bài viết
    6
    Thanks
    1
    Thanked 3 Times in 3 Posts

    Các vị Liệt nữ trong lịch sử Việt Nam

    Nhân kỷ niệm 102 năm ngày quốc tế phụ nữ 8/3 và 1.972 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng, lãng du tôi xin đóng góp một vài câu chuyện về các vị liệt nữ trong lịch sử Việt Nam:

    1/ Bà Triệu, trinh nữ hy sinh vì nước (Nguồn: phanduykha.wordpress.com)
    Bà tên là Triệu Thị Trinh, nhưng xưa nay quen gọi là Bà Triệu (1). Sử sách của ta thường quen gọi Bà Trưng, Bà Triệu là các “ bà”, thực ra khi hi sinh các bà còn trẻ lắm. Hai Bà Trưng (sinh đôi) khi mất mới 29 tuổi. Bà Triệu thì còn trẻ hơn, mới 23 tuổi ! Ngoài bà Trưng Trắc đã có chồng (là ông Thi Sách) thì cả bà Trưng Nhị và Bà Triệu đều hi sinh khi chưa có chồng. Các bà đều là những trinh nữ. Và, nếu theo đúng phong tục Việt Nam thì khi dâng hoa cho các bà , ta phải dùng toàn hoa trắng mới đúng.

    Bà Triệu quê ở Quân Ninh, nay là núi Quan Yên xã Định Công , huyện Yên Định, Thanh Hóa, có anh ruột là Triệu Quốc Đạt làm huyện lệnh huyện Cư Phong, đóng bản doanh ở vùng núi Nưa (Na Sơn) Nông Cống, Thanh Hóa. Những năm ấy, nhân dân ta đang rên xiết dưới ách thống trị tàn bạo của nhà Ngô. Triệu Quốc Đạt tuy làm quan huyện lệnh cho giặc nhưng lại ngấm ngầm thu nạp hào kiệt để chống lại chúng. Bà Triệu cũng tham gia cùng anh. Lúc đầu anh bà không đồng ý cho bà tham gia nghĩa quân mà muốn gả chồng cho bà để yên bề gia thất. Nhưng bà khẳng khái nói: “ Em muốn cưỡi cơn gió mạnh ,đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ cho muôn dân, chứ không thèm còng lưng, cúi đầu làm tỳ thiếp cho người ta, cam tâm phục dịch ở trong nhà ư ?

    Từ đó anh bà không dám đặt vấn đề gả chồng cho em gái nữa. Bà Triệu tham gia trong bộ chỉ huy quân sự của nghĩa quân, ở trong hàng tướng lĩnh của anh, rất được lòng quân sĩ. Triệu Quốc Đạt từng nói với mọi người: “Em gái ta có chí khí ấy, có thể nói rằng ,sau hai Bà Trưng, lại có một Bà Trưng nữa vậy. Em gái đã như vậy thì ta còn lo gì nữa” ( Lệ Hải Bà Vương ký, trích Tân đính hiệu bình Việt điện u linh )

    Năm Bính Dần (246) Triệu Quốc Đạt cùng em dựng cờ khởi nghĩa. Công việc đang dở dang thì Triệu Quốc Đạt bỗng dưng mắc bạo bệnh mà chết. Nghĩa quân cùng đồng thanh suy tôn Bà Triệu làm chủ tướng. Năm đó Bà mới 21 tuổi. Từ đó bà Triệu thống lĩnh ba quân, vỗ về dân chúng, hiệu lệnh quy củ, xa gần ai cũng quy phục. Mỗi lần ra trận bà thường mặc áo vàng, đi guốc ngà, cưỡi trên đầu voi , chỉ ngang ngọn giáo mà xông lên trước hàng quân, uy phong lẫm liệt, làm cho quân giặc khiếp sợ. Chúng gọi bà là Lệ Hải Bà Vương và bảo nhau:
    Hoành qua đương hổ dị

    Đối diện Bà Vương nan

    ( Cầm ngang ngọn giáo mà đương đầu với hổ thì dễ

    Đối mặt với vua Bà mới khó )

    Đủ thấy chúng sợ bà Triệu thế nào ! Cũng vì thế mà chúng tung tin bêu xấu bà, bảo bà là người dị tướng “ vú dài đến ba thước, vắt ra đằng sau lưng”. Sử sách của chúng ghi về bà: “Trong núi quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài 3 thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần” ( trích sách Giao Chỉ chí) .Rõ ràng câu văn sặc mùi miệt thị dân tộc. Ấy thế mà nhiều sách sử của ta cũng theo đó mà chép lại y nguyên như thế. Đó thực là sự vô ý thức của nhà làm sử. Thử hỏi , cô gái trinh mới 20 tuổi, chưa chồng, sao có thể “ Vú dài 3 thước, vắt ra sau lưng” được(!) . Trích dẫn mà không phê phán chẳng khác nào tiếp tay cho giặc!

    Từ quê Cửu Chân, nghĩa quân tấn công ra Bắc. Khí thế lừng lẫy. Thứ sử Giao Châu bỏ chạy “ Toàn thể Giao châu chấn động”. Đó là lời thú nhận của các sử gia phương Bắc. Vua Ngô cử Lục Dậu đem quân sang đàn áp. Bà Triệu cầm cự được hơn 6 tháng thì hy sinh. Lúc bấy giờ mới 23 tuổi( 225-248). Bà Triệu hy sinh nhưng gương lẫm liệt của bà vẫn sống mãi. Có những câu đối ca ngợi bà rất đặc sắc :

    “ Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lệ Hải Bà Vương, những muốn bon chân về Bắc quốc.

    Ngồi yên ngựa, khách đi hoài cổ, tưởng sự Lạc Hồng nữ tướng , có chăng thẹn mặt đấng nam nhi”.

    Trong dân gian có nhiều câu ca dao, câu hát ru con về bà, nhắc tới sự nghiệp lẫy lừng trong quá khứ :

    Ru con con ngủ cho lành

    Để mẹ lấy nước, rửa bành cho voi

    Muốn coi lên núi mà coi

    Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.

    Phan Duy Kha

    Chú thích: (1) :Sử sách Trung Hoa ghi tên bà là Triệu Ẩu nghĩa là mụ Triệu ,một cách gọi miệt thị của bọn phong kiến phương Bắc

    Ảnh trên: Bà Triệu, tranh dân gian Đông Hồ.

    Ảnh trong bài: Đền thờ Bà Triệu ở Hậu Lộc , Thanh Hóa.

    2/ Vị vua nữ thứ nhì trong lịch sử Việt Nam: (Tác giả: Viên Linh)

    Lý Chiêu Hoàng sinh tháng 9 năm Mậu Dần (1218), tên húy là Phật Kim sau đổi là Thiên Hinh. Năm 1224, Chiêu Thánh lên ngôi vua, gọi là Lý Chiêu Hoàng.

    Khi vị anh thư vùng Mê Linh (Vĩnh Phúc bây giờ) làm lễ xuất quân đánh đuổi giặc Bắc phương đang đô hộ Giao Chỉ, bà thề trước Trời Ðất và hơn 5 vạn quân gươm giáo sáng lòa, lời thề bốn điểm sử sách Nước Nam còn ghi:

    Một xin rửa sạch Nước Nhà
    Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng.
    Ba kẻo oan ức lòng chồng
    Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này.
    (Thiên Nam Ngữ Lục)

    Nước Nam lúc ấy đang bị giặc Hán qua tay Thái thú Tô Ðịnh đô hộ, chúng vốn đánh bại các vị Vua Hùng từ trước Tây lịch; còn chồng của Trưng Trắc là Thi Sách, con của Lạc tướng quận Chu Diên, đã bị Tô Ðịnh đem hành hình chỉ một thời gian ngắn sau đám cưới với Trưng Trắc, con của Lạc tướng Mê Linh. Mưu sâu của giặc Tầu là chúng tin rằng hai họ lớn của hai vị tướng quân xưa của Nước Âu Lạc, quận Giao Chỉ và quận Chu Diên, kết thông gia với nhau, thì sẽ khó mà trị, cho nên Tô Ðịnh đã đem quân phá tan đám cưới, bắt Thi Sách đem đi.
    Sau khi ào ạt chiếm 65 thành trì, Trưng Trắc lên ngôi Vua, sử gọi là Trưng Vương, đó là vị Vua Nữ đầu tiên của nước ta

    Tượng thờ Lý Chiêu Hoàng, vị vua nữ thứ nhì trong lịch sử nước Nam

    Vị vua nữ thứ nhì lên ngôi trong không khí một triều đại mạt thế, không có con trai nối dõi, cách vị vua nữ đầu tiên tới gần 1200 năm. Nguyên Nhà Lý, trị vì 215 năm, là Triều đại bền vững lâu dài nhất nước ta, nhưng đến đời vua Lý Huệ tông lại không có con trai nối dõi, phong cho con gái, tức Công chúa Chiêu Thánh, mới 7 tuổi, làm Hoàng-thái-tử! Lý Chiêu Hoàng sinh tháng 9 năm Mậu Dần (1218), tên húy là Phật Kim sau đổi là Thiên Hinh. Năm 1224, Chiêu Thánh lên ngôi vua, gọi là Lý Chiêu Hoàng. Vậy vị Vua Nữ thứ nhì của nước Nam lên ngôi cách vị vua nữ đầu tiên tới 1224-43= 1181 năm. Ngay việc Triều chính đời Lý Huệ Tông đã ở trong tầm tay của Tiết độ sứ Trần Thủ Ðộ, cho nên việc nước từ tay nhà Lý qua tay nhà Trần, cũng là chuyện dễ hiểu. Tuy thế, huyền thoại lại cho thấy rằng, đây cũng là chuyện của Trời, vì mệnh trời đã định như thế. Ngô Thời Sỹ viết trong Việt Sử Tiêu Án: “...địa-quyết làng Cổ Pháp (quê hương nhà Lý) có câu: 'Tộ truyền bát diệp, Diệp lạc âm sinh [Truyền được 8 lá, lá rụng âm (nữ) sinh: hay là Truyền được 8 đời vua, nhà vua sau rốt thứ 9 là đàn bà.] Ðại Việt Sử Ký toàn-thư cho biết Trần Thủ Ðộ trông coi việc sắc-dịch trong cung, đã đưa Trần Cảnh là cháu mình, vào làm chánh thủ.

    “Cảnh lúc ấy mới có 8 tuổi, chực hầu ở bên ngoài. Một hôm giữ việc bưng nước rửa, nhân thế vào hầu bên trong. Chiêu hoàng trông thấy yêu lắm. Mỗi khi chơi đêm, cho gọi Cảnh đến cùng chơi; thấy Cảnh ở chỗ tối thì chạy đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng vào bóng. Có một hôm Cảnh bưng chậu nước đứng hầu, Chiêu hoàng rửa mặt, lấy tay té nước ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không nói gì, về nói với Thủ Ðộ. Thủ Ðộ nói: ‘Nếu thực có thế thì họ [Trần] làm vua chăng? [Hay] chết cả họ chăng?’ Lại một hôm Chiêu hoàng lại lấy khăn trầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy xuống nói: ‘Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh.’

    Chiêu hoàng cười và nói: ‘Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn đó. Cảnh lại về báo cho Thủ Ðộ biết. Thủ Ðộ sợ việc tiết lộ ra thì bị giết cả. Bấy giờ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm, sai đóng cửa thành và các cửa cung, cắt người coi giữ. Các quan vào chầu không được vào. Thủ Ðộ loan báo rằng: ‘Bệ hạ đã có chồng rồi.’ Các quan đều nói được, xin chọn ngày vào chầu. Tháng ấy ngày 21, các quan vào chầu lạy mừng.” (ÐVSK toàn thư, q.4, tr.309).

    Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu tức 22 tháng 11 năm 1225, Lý Chiêu Hoàng (Niên hiệu: Thiên Chương Hữu Ðạo) xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh tức Trần Thái Tông. Bài chiếu nhường ngôi, theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, ban hành ngày 22 tháng 11 năm 1225:
    “Từ xưa nước Ðại Việt đã có các bậc đế vương trị vì thiên hạ. Riêng nhà Lý ta vâng chịu mệnh trời, làm chủ bốn biển, các vị thánh vương truyền nối đã hơn hai trăm năm. Chẳng may đức Thượng Hoàng mắc bệnh, không có người nối dõi, thế nước nguy khốn, đành sai trẫm nhận minh chiếu, gượng lên ngôi vua. Thật là từ xưa đến nay chưa có việc như thế bao giờ! Than ôi, trẫm là nữ chúa, tài đức đều kém, lại thiếu người giúp đỡ, mà giặc cướp thì nổi lên như ong, làm sao có thể giữ gìn ngôi vị quá nặng đó được? Trẫm những thức khuya dậy sớm, chỉ sợ gánh vác không nổi; lòng thường cầu mong có bậc hiền nhân quân tử, cùng giúp chính sự. Ngày đêm trẫm vẫn canh cánh nghĩ về việc đó.

    Người quân tử đẹp đôi
    Lòng rạo rực buồn vui
    Thức ngủ bao tơ tưởng
    Tình man mác xa xôi

    “Nay trẫm một mình suy nghĩ đi nghĩ lại, duy có Trần Cảnh là người văn chất rõ ràng, phong thái đúng là bậc hiền nhân quân tử, uy nghi trầm mặc, lại có tư chất của đấng văn võ thánh thần, dù Hán Cao Tổ, Ðường Thái Tông cũng không hơn được. Trẫm đã sớm suy nghĩ, nghiệm xét từ lâu: nên nhường lại ngôi lớn để yên lòng trời, để thỏa ý trẫm, có vậy mới mong ai nấy đồng lòng gắng sức, phù trì vận nước lâu dài, để cùng chung hưởng hạnh phúc thái bình. Nay bá cáo cho thiên hạ cùng nghe biết.”


    Ðền Rồng ở Bắc Ninh, nơi thờ Lý Chiêu Hoàng hiện nay. (Nguồn: Khởi Hành)

    Năm 1258, sau kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông đem Chiêu Thánh gả cho Lê Phụ Trần (vốn là Lê Tần). Bà sống hạnh phúc với Lê Phụ Trần được 20 năm, sinh ra con trai là Thượng vị hầu Tông, con gái là Ứng Thụy công chúa Khuê. Bà mất năm 1278, thọ 61 tuổi. Nhà thơ Tản Ðà có bài thơ Vịnh Lý Chiêu Hoàng lời lẽ mỉa mai như 4 câu sau đây:

    Quả núi Tiên Sơn có nhớ công
    Mà em đem nước để theo chồng
    Ấy ai khôn khéo trò dan díu?
    Cái nợ huê tình có biết không?

    Chiêu Hoàng không được thờ chung với các vua Lý khác ở đền Ðô - Lý Bát Ðế - tại Ðình Bảng, Bắc Ninh, thế kỷ XIII, mà được dân làng thương mến, xây riêng cho bà một nơi thờ riêng tục gọi là Ðền Rồng.

    View more latest threads same category:


  2. #2
    Junior Member
    Ngày tham gia
    Mar 2012
    Bài viết
    6
    Thanks
    1
    Thanked 3 Times in 3 Posts

    Bà mẹ anh hùng của Hai Bà Trưng

    Mời các bạn đọc bài viết trên tuần san thế giới mới số 12 - 2013 ra ngày 08/4/2013 viết về bà mẹ của Hai Bà Trưng của tác giả Phan Duy Kha

    Hai Bà Trưng là những vị anh hùng dân tộc, đã phất cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược phương Bắc, mở đầu cho những cuộc đấu tranh giành độc lập lâu dài của dân tộc ta. Nhưng ít ai biết rằng bà mẹ của Hai Bà cũng là một bà mẹ anh hùng.




    Hai Bà Trưng khởi nghĩa (tranh dân gian Đông Hồ)
    Bà tên là Man Thiện, lại có tên là Trần Thị Đoan, quê ở làng Nam Nguyễn, nay là Thịnh Thôn, thuộc xã Cam Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội. Truyền thuyết kể rằng, bà là cháu ngoại vua Hùng, thuở con gái đẹp người đẹp nết, chăm nghề trồng dâu nuôi tằm, lại có tài võ nghệ. Bà kết duyên cùng ông Hùng Định, lạc tướng đất Mê Linh, là dòng dõi của vua Hùng. Hai ông bà sinh được một con trai khôi ngô tuấn tú nhưng không may mất sớm. Vào ngày 1 tháng 8 năm Giáp Tuất (tức năm 14 công lịch), bà sinh đôi hai con gái, đặt tên là Trưng Trắc, Trưng Nhị (có thể là Trứng Chắc, Trứng Nhì, thuật ngữ trong nghề nuôi tằm).

    Mấy năm sau ông Hùng Định qua đời, bà một mình nuôi con khôn lớn. Bà mời hai vợ chồng ông Đỗ Năng Tế về nhà dạy dỗ cho hai con cả văn và võ. Lớn lên hai chị em đều là những người tài sắc, giỏi võ nghệ và có chí lớn. Sử sách ghi chép rằng, “Trưng Trắc là người rất có tiết nghĩa, tính khí hùng dũng, quyết đoán, sáng suốt”. Bà Trưng Trắc kết duyên cùng ông Thi Sách, huyện lệnh huyện Chu Diên. Tuy nhiên, theo phong tục thời bấy giờ, hai ông bà vẫn ở hai nơi, như là những vị thủ lĩnh của hai địa phương riêng biệt.

    Vào năm 34, Hán Quang Vũ cử Tô Định sang làm thái thú Giao Chỉ thay Tích Quang. Vốn là một tên quan tham lam, hà khắc, Tô Định một mặt ra sức bóc lột vơ vét của cải của nhân dân ta, mặt khác đàn áp dã man tàn bạo những ai có ý định chống lại hắn. Lòng dân căm phẫn cao độ. Ở Chu Diên, ông Thi Sách dựng cờ khởi nghĩa, bị Tô Định hãm hại. Mang nặng nợ nước thù nhà, Hai Bà Trưng quyết định khởi nghĩa. Tháng 2 năm Canh Tý (năm 40), Hai Bà hội quân trên bãi Trường Sa thuộc Hát Môn (cửa sông Hát, nay thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội). Anh hùng hào kiệt khắp nơi kéo về tụ nghĩa. Đó là các nữ tướng: Thánh Thiên, Lê Chân, Thục Nương, Lê Thị Hoa, Xuân Nương, Thiều Hoa, Phương Dung, Nàng Quốc... Có một số nam tướng cũng theo về dưới cờ, có nhiều người giả gái để dễ được nhận vào đội ngũ. Đặc biệt, kéo về tụ nghĩa dưới cờ còn có bà Man Thiện, mẹ đẻ của Hai Bà, lúc đó đã đứng tuổi. Bà Man Thiện chỉ huy 7 vạn quân bản bộ (theo thần tích), là một lực lượng lớn đóng góp vào đội quân của Hai Bà. Đây là một trường hợp đặc biệt, duy nhất trong lịch sử cổ kim: bà mẹ đứng dưới cờ của hai con, làm một viên tướng dưới quyền chỉ huy của hai con.
    Từ Hát Môn, quân ta vượt sông Hồng, tiến về Luy Lâu (vùng Dâu, Thuận Thành ngày nay), thủ phủ của Tô Định. Quân ta đi đến đâu, giặc chạy tan tác đến đấy. Tô Định hốt hoảng cắt râu, cạo tóc, trốn khỏi thành, chạy về Trung Hoa. Giao Chỉ được giải phóng. Nhân dân ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Nam Hải, Hợp Phố đều nổi dậy hưởng ứng. Ta làm chủ được 65 thành trì. Bà Trưng Trắc được tôn lên ngôi vua, hiệu là Trưng Vương, đóng đô ở quê nội là Mê Linh: Đô kỳ đóng cõi Mê Linh / Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

    Bà Man Thiện được phong làm Man Hoàng hậu. Trưng Nhị được phong làm Bình Khôi công chúa. Các tướng lĩnh đều được phong và chia đi đóng giữ các nơi. Tuy được phong là Man Hoàng hậu nhưng bà Man Thiện không ở lại kinh đô Mê Linh mà đem quân bản bộ trở về Nam Nguyễn quê hương lập đồn bốt, làm chỗ dựa cho hai con.

    Tháng 1 Nhâm Dần (năm 42), tên tướng già Mã Viện vâng lệnh vua Hán kéo sang nước ta. Giặc theo đường biển đánh vào Lãng Bạc (vùng Lục Đầu - Phả Lại ngày nay). Hai Bà tập trung quân đánh một trận lớn. Mã Viện là một tên tướng lão luyện, Hai Bà cự không nổi, phải lùi về Mê Linh. Từ Mê Linh lại rút về Cấm Khê (tức Kim Khê) thuộc vùng núi Ba Vì ngày nay. Bà Man Thiện đem toàn bộ quân bản bộ đón đánh giặc một trận lớn trên sông Hồng, nguyện liều mình cản đường tiến của giặc để bảo vệ hai con rút lui an toàn. Do chênh lệch về lực lượng, quân ta bị thua. Bà Man Thiện bị thương nặng. Quyết không để sa vào tay giặc, bà đã nhảy xuống sông Hồng tự vẫn. Xác bà trôi về bến Cốc, làng Nam Nguyễn quê hương. Nhân dân địa phương thương tiếc vớt lên chôn cất và lập miếu thờ. Mộ bà trên gò đất cao, nơi trước kia là quân doanh của bà, gọi là Mả Dạ. Miếu thờ bà cách đó không xa, gọi là Miếu Mèn, nay vẫn còn ở Nam Nguyễn (nay là Thịnh Thôn, Cam Thượng, Ba Vì, Hà Nội).
    Bà Man Thiện xứng đáng là bà mẹ Việt Nam anh hùng đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
    Phan Duy Kha

+ Trả lời Chủ đề

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

     

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình